Bỏ qua, tới nội dung chính
Miễn phí giao hàng cho đơn từ 800.000đ
TDP Đông Vinh, phường Đông Quang, tỉnh Thanh Hóa; VP Miền Nam: Thạnh Xuân 18, Phường Thới An, Tp. HCM
COMBO HỒ TIÊU 02 – Bộ nguyên liệu tham khảo dinh dưỡng và điều hòa sinh trưởng giai đoạn nhú cựa, ra hoa, đậu hạt

COMBO HỒ TIÊU 02 – Bộ nguyên liệu tham khảo dinh dưỡng và điều hòa sinh trưởng giai đoạn nhú cựa, ra hoa, đậu hạt

Dưỡng hoaHỗ trợ đậu tráiHạn chế rụng tráiBổ sung trung vi lượng

Cây công nghiệp

Combo

Bộ nguyên liệu canxi, bo, magie, kẽm liều phun lá vừa phải cùng GA3, Na-NAA, DA-6, Atonic liều thấp, tham khảo phun giai đoạn nhú cựa – ra hoa giúp gié phát triển đều, hỗ trợ đậu hạt hồ tiêu.

1.261.000 ₫ 1.356.000 ₫

Tiết kiệm 95.000 ₫ (7%)

Cần tư vấn? Gọi 0362180036

Mô tả sản phẩm

Giới thiệu

Ở hồ tiêu, giai đoạn nhú cựa – ra gié – nở hoa quyết định số hoa trên gié và tỷ lệ đậu hạt. Rụng gié, gié ngắn, thưa hạt liên quan đến thời tiết (khô hạn, mưa kéo dài), tình trạng dinh dưỡng và sức cây. Bộ nguyên liệu phối hợp canxi, bo, magie, kẽm chelate ở liều phun lá vừa phải với bốn chất điều hòa sinh trưởng liều thấp, dùng phun lá từ khi nhú cựa đến hoa nở rộ.

Thành phần và vai trò theo tài liệu

  • Canxi chelate (2 kg) và Solubor (1 kg): canxi cần cho vách và màng tế bào, ổn định mô cuống; bo cần cho nảy mầm, sinh trưởng ống phấn và thụ tinh. Thiếu bo ở giai đoạn ra hoa làm tăng tỷ lệ hoa không đậu.

  • Magie, kẽm chelate (2 kg, 1 kg): duy trì diệp lục, hệ enzyme và sinh trưởng mô non. Mỗi phuy dùng Ca-EDTA, Mg-EDTA 100 g, Zn-EDTA, Solubor 50 g (≈ 30–50 mg/L mỗi nguyên tố), khoảng một nửa liều phun lá thông dụng, vì dung dịch phun lên gié và hoa non.

  • Gibberellic Acid 40% (25 g): gibberellin thúc đẩy vươn dài tế bào; một nghiên cứu ở Brazil trên hồ tiêu ghi nhận GA3 10–20 mg/L kích thích ra hoa, còn 30 mg/L lại thiên về sinh trưởng thân lá. Bộ dùng mức thấp (≈ 5 mg/L).

  • Na-NAA (25 g): auxin tổng hợp. Thí nghiệm trên hồ tiêu (Đại học Philippines Los Baños) ghi nhận NAA phun lúc hoa nở không ảnh hưởng rụng gié nhưng phun 1–3 tuần sau nở hoa lại làm tăng rụng; vì vậy bộ chỉ dùng NAA ở giai đoạn nhú cựa.

  • DA-6 và compound sodium nitrophenolate (25 g mỗi loại): được nghiên cứu về vai trò duy trì quang hợp, trao đổi chất; dùng liều thấp ≈ 6 mg/L.

Cách phối trộn và nồng độ tham khảo

Một bộ dùng cho 4.000 L (20 phuy 200 L). Chất điều hòa sinh trưởng pha thành ba chai dung dịch mẹ riêng để dùng đúng giai đoạn; phần dinh dưỡng cân trực tiếp vào phuy.

Thành phần (cho 1 phuy 200 L)LượngNồng độDùng ở giai đoạn
Ca-EDTA100 gCa ≈ 50 mg/LTất cả các lần
Solubor50 gB ≈ 51 mg/L (0,25 g/L)Tất cả các lần
Mg-EDTA100 gMg ≈ 30 mg/LTất cả các lần
Zn-EDTA50 gZn ≈ 38 mg/LTất cả các lần
Dung dịch mẹ A (DA-6 + Atonic)100 mLDA-6 ≈ 6 mg/L; nitrophenolate ≈ 6 mg/LTất cả các lần
Dung dịch mẹ B (Na-NAA)100 mLNa-NAA ≈ 12 mg/L (≈ 11 mg/L tính theo NAA)Chỉ nhú cựa
Dung dịch mẹ C (GA3)100 mLGA3 ≈ 5 mg/LChỉ nhú cựa

Phun 2 lần khi cựa hoa dài 1–2 cm, cách nhau 5–7 ngày (có B và C); có thể phun thêm 1 lần khi hoa nở 20–30% nhưng không có Na-NAA và GA3.

Không tự tăng liều. Liều trong bảng đã là mức đủ cho mỗi lần phun; tăng liều, kể cả pha đậm gấp đôi, dễ gây cháy lá, rụng trái.

Lưu ý

  • Solubor làm dung dịch hơi kiềm, trong khi GA3 kém bền ở môi trường kiềm: pha xong phun ngay trong ngày.

  • Không phối với chế phẩm kiềm, vôi, thuốc gốc đồng; không phun khi cây thiếu nước, suy yếu hoặc sau mưa lớn kéo dài.

  • Không phun thêm sản phẩm khác chứa bo; tổng Solubor trong năm không nên vượt khoảng 5 kg/ha (≈ 1 kg B/ha).

  • Mỗi phuy có tổng khoảng 0,15% chất dinh dưỡng (đã giảm từ khoảng 0,3%); lần phun khi hoa nở dùng một nửa lượng dinh dưỡng; không pha đậm hơn bảng.

Combo là bộ nguyên liệu kỹ thuật tham khảo, không phải sản phẩm thành phẩm. Nồng độ trên là mức tham khảo theo tài liệu; hiệu quả phụ thuộc giống cây, giai đoạn, thời tiết và kỹ thuật canh tác — nên thử trên diện tích nhỏ trước khi áp dụng rộng.