Dưa leo (dưa chuột) nhà màng lớn rất nhanh: chừng 11 ngày sau khi hoa nở là trái đủ cỡ bán. Cây ăn khỏe nên dinh dưỡng trong nước tưới phải đều và đúng. Bài này giới thiệu công thức tưới nhỏ giọt cho dưa leo của Đại học Florida (UF/IFAS, Mỹ), chúng tôi quy sẵn ra gam cho 1.000 lít nước tưới.

Xin nói trước: đây là số liệu nước ngoài, làm cho cây trồng giá thể (xơ dừa, đá trân châu...). Nước mỗi nơi có sẵn canxi, magie, pH khác nhau, nên bà con coi đây là điểm xuất phát rồi điều chỉnh theo nước và giá thể nhà mình.

Dưa leo cần bao nhiêu dinh dưỡng?

Tài liệu "Quản lý phân bón cho rau nhà kính" của George và Robert Hochmuth (UF/IFAS) có một công thức riêng cho dưa leo (dựa trên công thức của J. B. Jones), chia vụ làm hai chặng: từ lúc gieo đến khi có trái đầu tiên, và từ trái đầu đến cuối vụ. Nồng độ tính bằng ppm, tức miligam trong mỗi lít nước tưới:

  • Chặng 1 (gieo đến trái đầu): đạm (N) 133, lân (P) 62, kali (K) 150, canxi (Ca) 130, magie (Mg) 50, lưu huỳnh (S) 70 ppm.

  • Chặng 2 (từ trái đầu đến cuối vụ): đạm tăng lên 240 và canxi lên 260 ppm; lân, kali, magie, lưu huỳnh giữ nguyên như chặng 1.

  • Vi lượng suốt vụ: sắt 2,5; mangan 0,62; bo 0,44; kẽm 0,09; đồng 0,05; molipđen 0,03 ppm.

Chia theo giai đoạn: cây con, ra hoa, thu trái

  • Cây con: UF/IFAS khuyên đem trồng khi cây có 3 đến 4 lá thật, và không để cây con thiếu nước, thiếu dinh dưỡng. Tài liệu không có công thức riêng cho vườn ươm; cây con dùng công thức chặng 1.

  • Ra hoa (chưa có trái): vẫn dùng chặng 1.

  • Thu trái: trái đầu tiên đậu thì chuyển sang chặng 2, chủ yếu tăng canxi nitrat.

Công thức pha cho 1.000 lít nước tưới

Bảng gốc tính cho 100 lít; chúng tôi nhân lên cho 1.000 lít (1 khối):

Chặng 1: cây con và ra hoa

  • Canxi nitrat (loại phân bón khoảng 15,5% N, 19% Ca): 680 g.

  • Kali nitrat (KNO3): 200 g.

  • MKP (KH2PO4): 270 g.

  • Magie sunfat (MgSO4.7H2O): 500 g.

  • Sắt chelate: tài liệu dùng 25 g loại 10% sắt. Nếu dùng sắt chelate Fe-EDTA 13% thì khoảng 19 g cho ra cùng 2,5 ppm sắt (chúng tôi tự quy đổi).

Chặng 2: thu trái

  • Canxi nitrat tăng lên 1.360 g.

  • Kali nitrat 200 g, MKP 270 g, magie sunfat 500 g, sắt chelate giữ như chặng 1.

Vi lượng còn lại

Mangan, bo, kẽm, đồng, molipđen cho 1.000 lít rất ít, cân lẻ khó chính xác; nên pha vào bồn mẹ (mục dưới), hoặc dùng vi lượng tổng hợp pha theo hướng dẫn trên bao bì cho gần các mức ppm ở trên.

Pha bồn mẹ A, B cho 10 khối nước

Nhà màng thường pha hai bồn mẹ đậm đặc, bơm châm phân hút theo tỉ lệ 1:100. Bồn mẹ 100 lít đậm gấp 100 lần đủ cho 10.000 lít nước tưới. Lượng cân (chúng tôi quy đổi):

  • Bồn A (bồn canxi): canxi nitrat 6,8 kg (chặng 1) hoặc 13,6 kg (chặng 2); kali nitrat 2 kg; sắt Fe-EDTA 13% khoảng 190 g.

  • Bồn B (bồn lân, magie): MKP 2,7 kg; magie sunfat 5 kg; cùng vi lượng quy đổi theo hàm lượng loại thông dụng: Solubor (20,5% bo) khoảng 21 g; mangan EDTA 13% khoảng 48 g; kẽm EDTA 15% khoảng 6 g; đồng EDTA 15% khoảng 3,3 g; natri molipđat (39% Mo) khoảng 0,8 g.

Máy châm chạy tỉ lệ khác (1:50, 1:200...) thì tính lại lượng cân.

EC và pH bao nhiêu là vừa?

  • pH: tài liệu trồng dưa leo của UF/IFAS khuyên 5,5 đến 6,0; tài liệu phân bón UF/IFAS ghi 5,6 đến 6,0 cho thủy canh, 5,5 đến 6,5 cho giá thể rắn.

  • EC: hướng dẫn của Haifa (nguồn phụ, hãng phân bón) cho dưa leo trồng giá thể ghi EC dung dịch khoảng 2,2 dS/m; EC nước tưới vào và nước thoát ra không nên chênh quá 0,4 đến 0,5 dS/m.

  • Nước nguồn: UF/IFAS xếp nước có EC trên 1,5 dS/m vào loại kém; EC trong giá thể không nên lệch quá 1,0 dS/m so với dung dịch tưới.

Nên đo EC, pH mỗi ngày ở cả nước tưới vào lẫn nước thoát ra để biết giá thể có bị tích muối không.

Lưu ý khi pha

  • Không trộn canxi với sunfat, phosphat trong cùng bồn đậm đặc. Theo UF/IFAS, canxi nitrat đậm đặc gặp phân lân sẽ kết tủa canxi phosphat, gặp magie sunfat, kali sunfat sẽ ra canxi sunfat (thạch cao), gây nghẹt béc. Vì vậy canxi nitrat và sắt để bồn A; MKP, magie sunfat, vi lượng để bồn B.

  • Thứ tự pha: cho nước khoảng 2/3 bồn, hòa từng loại phân một, tan hết loại này mới cho loại kế, sau cùng thêm nước cho đủ. Nước nhiều bicarbonat (pH cao) thì UF/IFAS khuyên chỉnh pH bằng axit trước khi cho phân vào.

  • Trừ phần có sẵn trong nước: UF/IFAS cho biết nước giếng ở Florida thường có từ 50 ppm canxi trở lên. Bà con nên phân tích mẫu nước một lần để giảm canxi nitrat, magie sunfat cho hợp.

  • Thử trên vài luống trước trong 1 đến 2 tuần, theo dõi lá non, mép lá và EC nước thoát rồi mới làm cả nhà màng.

Tóm lại

Từ cây con đến ra hoa dùng 680 g canxi nitrat, 200 g kali nitrat, 270 g MKP, 500 g magie sunfat và vi lượng chelate cho mỗi khối nước; trái đầu đậu thì tăng canxi nitrat lên 1.360 g. Giữ pH khoảng 5,5 đến 6,0, đo EC hằng ngày, tách bồn canxi riêng và thử trên vài luống trước.

Bà con cần tư vấn thêm cách tính công thức theo nguồn nước nhà mình, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.

Tài liệu tham khảo: UF/IFAS (Đại học Florida) – G. Hochmuth, R. Hochmuth, Fertilizer Management for Greenhouse Vegetables, Florida Greenhouse Vegetable Production Handbook, Vol 3 (CV265); UF/IFAS – R. C. Hochmuth, Greenhouse Cucumber Production, Florida Greenhouse Vegetable Production Handbook, Vol 3 (CV268); Haifa Group – Fertilization of cucumber in various growing methods (hướng dẫn kỹ thuật).

Ảnh minh họa: Amnsalem, Wikimedia Commons (CC BY-SA 4.0).