Cà chua nhà màng trồng giá thể thì mọi thứ cây ăn đều nằm trong bồn dung dịch. Pha thiếu thì cây còi, dư đạm thì cây vống, trái méo; dư kali thì trái dễ thối đít. Bài này giới thiệu công thức của Đại học Florida (UF/IFAS, Mỹ), chia theo 5 giai đoạn, chúng tôi quy sẵn ra gam cho 1.000 lít nước tưới.
Cây cà chua cần bao nhiêu dinh dưỡng ở mỗi giai đoạn?
Tài liệu của George và Robert Hochmuth (UF/IFAS) cho cà chua trồng trên đá len, đá trân châu hoặc hệ NFT chia vụ thành 5 giai đoạn theo chùm trái. Nồng độ tính bằng ppm (miligam mỗi lít):
Giai đoạn 1 (trồng đến chùm 1): đạm (N) 70, kali (K) 120 ppm.
Giai đoạn 2 (chùm 1 đến chùm 2): N 80, K 120 ppm.
Giai đoạn 3 (chùm 2 đến chùm 3): N 100, K 150 ppm.
Giai đoạn 4 (chùm 3 đến chùm 5): N 120, K 150 ppm.
Giai đoạn 5 (chùm 5 đến cuối vụ): N 150, K 200 ppm.
Suốt vụ: lân (P) 50, canxi (Ca) 150, magie (Mg) 40 đến 50, lưu huỳnh (S) 50 đến 60 ppm; sắt 2,8; mangan 0,8; bo 0,7; kẽm 0,3; đồng 0,2; molipđen 0,05 ppm.
Tài liệu nhấn mạnh: đầu vụ giữ đạm thấp (60 đến 70 ppm) để cây khỏi "lốp", thân nứt dễ thối nhũn; và đừng để kali quá cao vì kali cản cây hút canxi, magie, gây thối đít trái và vàng lá gốc.
Công thức pha cho 1.000 lít dung dịch tưới
Tài liệu đưa 4 công thức; chúng tôi chọn công thức số 3, dùng MKP (KH2PO4) làm nguồn lân vì toàn phân tan dễ mua. Bảng gốc tính cho bồn mẹ 30 gallon pha loãng 100 lần; chúng tôi quy ra cho mỗi 1.000 lít nước tưới (làm tròn):
Phần A (đa lượng không có canxi)
Giai đoạn 1 và 2: 220 g MKP, 160 g kali nitrat (KNO3), 400 g magie sunfat (MgSO4.7H2O).
Giai đoạn 3: 220 g MKP, 200 g KNO3, 400 g MgSO4, 40 g kali clorua (KCl loại tan dùng cho nhà kính).
Giai đoạn 4 và 5: 220 g MKP, 320 g KNO3, 480 g MgSO4, 40 g KCl.
Phần B (canxi và sắt)
Canxi nitrat dạng bột: giai đoạn 1 khoảng 330 g; giai đoạn 2 khoảng 390 g; giai đoạn 3 khoảng 490 g; giai đoạn 4 khoảng 525 g; giai đoạn 5 khoảng 545 g. Có thể dùng canxi nitrat loại tan.
Sắt chelate: 28 g loại chứa 10% sắt (như trong tài liệu), cho khoảng 2,8 ppm sắt. Nếu dùng sắt chelate Fe-EDTA 13%, chúng tôi tính ra khoảng 21 đến 22 g.
Vi lượng (cho vào phần A, giống nhau cả vụ)
Vi lượng rất ít nên tính cho bồn mẹ A 100 lít (pha được 10.000 lít nước tưới): đồng sunfat 9 g, mangan sunfat 31 g, kẽm sunfat 9 g, Solubor (bo 20,5%) 35 g, natri molipdat dạng bột khoảng 1,8 g. Phải dùng cân tiểu ly.
Giai đoạn 5, tài liệu gốc thêm khoảng 80 g amoni nitrat mỗi 1.000 lít để đạt 150 ppm đạm. Ở nước ta amoni nitrat là tiền chất thuốc nổ, mua bán bị quản lý chặt; không có thì đạm hụt khoảng 27 ppm, bà con nên hỏi cán bộ kỹ thuật cách bù, đừng tự tăng phân khác.
Cách làm bồn mẹ A, B
Công thức tính cho châm phân tỷ lệ 1:100: 1 lít bồn A và 1 lít bồn B hòa vào 100 lít nước tưới. Làm bồn mẹ 100 lít thì lấy lượng cho 1.000 lít ở trên nhân 10. Ví dụ giai đoạn 1: bồn A có 2,2 kg MKP, 1,6 kg KNO3, 4 kg MgSO4 và vi lượng; bồn B có khoảng 3,3 kg canxi nitrat và 280 g sắt chelate 10%.
Theo Đại học Ohio State (Mỹ), ở dạng đậm đặc, canxi gặp gốc sunfat và gốc lân sẽ kết tủa thành thạch cao và lân khó tan. Vì vậy canxi nitrat không bao giờ chung bồn với MKP, magie sunfat hay vi lượng sunfat.
Hai máy châm lắp song song trên cùng đường nước thì tài liệu UF dặn gấp đôi lượng phân trong mỗi bồn mẹ.
Lưu ý khi pha
Thử nước trước: phân tích pH, cacbonat, canxi, magie, lưu huỳnh, sắt trong nước giếng. Công thức số 3 với canxi nitrat bột chỉ cho khoảng 60 đến 100 ppm canxi, phần còn lại tài liệu tính từ nước giếng. Nước nghèo canxi thì tài liệu gợi ý thêm canxi clorua (loại 36% canxi) vào bồn B, mỗi 40 g cho 1.000 lít tăng khoảng 14 ppm canxi.
pH dung dịch tưới: giữ 5,8 đến 6,2. Hạ pH bằng axit thì luôn rót axit vào nước, đeo kính, găng tay.
Thứ tự pha: đổ nước sạch 2/3 bồn, cho từng loại phân, khuấy tan hết loại này mới cho loại kia, sau cùng thêm nước cho đủ. Vi lượng hòa riêng trong xô nhỏ rồi mới đổ vào bồn A.
Đo EC sau khi pha: tài liệu UF không nêu EC; với công thức của mình, Ohio State nêu khoảng 2,0 mS/cm lúc cây nhỏ và 2,4 mS/cm khi cây mang nhiều trái. Ghi EC mẻ đầu làm mốc để so.
Tần suất tưới: đá len, đá trân châu cần tưới 10 đến 20 lần mỗi ngày, để khoảng 20% nước chảy ra; giá thể giữ nước tốt hơn thì tưới ít lần hơn.
Thử trước trên một luống vài ngày khi đổi công thức rồi mới chạy cả nhà màng. Dung dịch pha loãng không để lâu vì dễ mọc rêu.
Tóm lại
Công thức của Đại học Florida: đạm tăng dần từ 70 lên 150 ppm theo số chùm trái, kali từ 120 lên 200 ppm, lân, canxi, magie và vi lượng giữ ổn định suốt vụ. Pha hai bồn A, B riêng, kiểm tra pH, EC đều đặn.
Bà con cần tư vấn thêm, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.
Tài liệu tham khảo: George J. Hochmuth và Robert C. Hochmuth, Đại học Florida (UF/IFAS), "Nutrient Solution Formulation for Hydroponic (Perlite, Rockwool, NFT) Tomatoes in Florida" (HS796/CV216); Mark Kroggel và Chieri Kubota, Đại học Ohio State, "Hydroponic Nutrient Solution for Optimized Greenhouse Tomato Production" (HYG-1437, 2018).
Ảnh minh họa: Goldlocki, Wikimedia Commons (CC BY-SA 3.0).