Đông Xuân là vụ khô, nhiều nắng, lúa cho năng suất cao nhất năm, nên cũng là vụ bà con dễ "mạnh tay" với đạm, tốn tiền mà lúa dễ đổ, dễ sâu bệnh. Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) cùng các đối tác châu Á đã xây dựng cách bón theo nhu cầu của cây, gọi là quản lý dinh dưỡng theo địa điểm cụ thể (SSNM): bón đúng phần đất còn thiếu, vào đúng lúc lúa cần.
Một tổng quan năm 2021 của các nhà khoa học IRRI gom 46 nghiên cứu ở 11 nước: so với cách bón của nông dân, SSNM giúp năng suất tăng trung bình 644 kg/ha (11,4%), dùng ít đạm hơn khoảng 14%, lãi trên chi phí phân tăng khoảng 178 USD/ha.
Bước 1: Đất ruộng mình tự nuôi được bao nhiêu?
IRRI dùng một mẹo đơn giản: chừa một ô nhỏ không bón đạm nhưng vẫn bón đủ lân, kali, rồi cắt riêng để biết năng suất "đất tự nuôi". Theo IRRI, lúa nước trên đất nhiệt đới châu Á thường đạt khoảng 4 tấn/ha dù không bón đạm. Phần năng suất muốn tăng thêm so với ô này mới là phần cần đạm.
Bước 2: Tính tổng đạm theo năng suất muốn tăng
Theo IRRI, trong vụ năng suất cao (thường là vụ khô, nhiều nắng như Đông Xuân), muốn tăng 1 tấn lúa cần khoảng 40 kg N; tăng 2 tấn cần khoảng 80 kg, 3 tấn khoảng 120 kg. Vụ năng suất thấp (thường là vụ mưa) cần 50–60 kg N cho mỗi tấn tăng thêm.
Ví dụ IRRI đưa ra: ruộng không bón đạm đạt 4 tấn, muốn đạt 7 tấn/ha trong vụ năng suất cao thì cần khoảng 120 kg N/ha, tức chừng 260 kg urê (46% N).
Bước 3: Chia đạm theo giai đoạn của lúa sạ
Giai đoạn đầu (đến 21 ngày sau sạ): lúa còn nhỏ, cần ít đạm. Bón khoảng 20–30 kg N/ha khi mức tăng năng suất nhờ đạm từ 1 đến 3 tấn; trên 3 tấn thì bón 25–30% tổng đạm. Ruộng đã bón nhiều phân hữu cơ tốt hoặc đất giàu đạm thì giảm hoặc bỏ lần này.
Đẻ nhánh rộ: khoảng giữa ngày 21 sau sạ và lúc làm đòng. Đạm lúc này quyết định số bông.
Làm đòng: theo IRRI, với lúa vùng nhiệt đới là khoảng 60 ngày trước thu hoạch; đạm lúc này quyết định số hạt trên bông. Chúng tôi tính ra: giống khoảng 95–100 ngày thì làm đòng chừng 35–40 ngày sau sạ, đẻ nhánh rộ chừng 28–30 ngày sau sạ.
Trổ: lúa thuần thường không cần bón thêm. Riêng lúa lai năng suất cao, lá ngả vàng xanh lúc trổ, IRRI gợi ý thêm khoảng 20 kg N/ha.
Với ví dụ 120 kg N: bón đầu khoảng 25 kg N, còn khoảng 95 kg cho hai lần đẻ nhánh rộ và làm đòng. Chúng tôi gợi ý tạm chia đôi, mỗi lần chừng 47 kg N, rồi tăng giảm theo màu lá.
Dùng bảng so màu lá để chỉnh liều đạm
Lá xanh đậm là đủ đạm, lá xanh ngả vàng là thiếu. IRRI đã chuẩn hóa bảng so màu lá bằng nhựa 4 ô, từ xanh vàng đến xanh đậm. Theo hướng dẫn của Đại học Nông nghiệp Tamil Nadu (Ấn Độ):
Lúa sạ bắt đầu so màu từ khoảng 21 ngày sau sạ, mỗi tuần một lần tới khi trổ; không dùng bảng cho lần bón đầu.
So ở 10 chỗ trong ruộng; khi 6 trên 10 chỗ có lá nhạt hơn ngưỡng thì mới bón.
Ngưỡng là ô số 4 với đa số giống và lúa lai; ô số 3 với giống lá vốn xanh nhạt.
Đến lần bón mà lá vẫn đậm hơn ngưỡng thì bớt hoặc hoãn đạm; lá nhạt hơn ngưỡng thì bón đủ.
Lân và kali
Lân: theo IRRI, ruộng đã bón lân nhiều năm chỉ cần khoảng 4–5 kg P2O5 cho mỗi tấn lúa; vụ 7 tấn cần chừng 28–35 kg P2O5, tức khoảng 175–220 kg super lân (16%). Bón hết lân trong giai đoạn đầu vì lân giúp ra rễ, đẻ nhánh.
Kali: IRRI không đưa con số chung vì kali tùy đất, nước tưới và cách xử lý rơm; rơm để lại ruộng thì cần bù ít hơn. Cách chia: tổng kali dưới 40 kg K2O/ha thì bón hết trong giai đoạn đầu; nhiều hơn, hoặc đất cát, thì bón khoảng một nửa lúc đầu, nửa còn lại lúc làm đòng.
Quy ra cho 1.000 m² (ví dụ)
Lấy ví dụ 120 kg N, 32 kg P2O5 và 60 kg K2O cho 1 ha (riêng kali là con số giả định để minh họa cách chia), dùng urê, super lân và kali clorua KCl (60% K2O):
Giai đoạn đầu (trước 21 ngày sau sạ): 5,4 kg urê, 20 kg super lân, 5 kg KCl.
Đẻ nhánh rộ: khoảng 10 kg urê, chỉnh theo màu lá.
Làm đòng: khoảng 10 kg urê (chỉnh theo màu lá) và 5 kg KCl.
Lưu ý khi pha và bón
Urê trộn với KCl thì trộn ngay trước khi rải, rải hết trong ngày vì dễ hút ẩm, chảy nước. Không trộn vôi với urê, dễ bay hơi đạm.
Dùng DAP hay NPK thay phân đơn thì trừ phần đạm có sẵn ra khỏi lượng urê, kẻo dư đạm.
Vụ Hè Thu ít nắng hơn: tính lại theo 50–60 kg N cho mỗi tấn tăng thêm.
Thử trước: đổi cách bón thì làm trên một thửa, so với thửa bón kiểu cũ rồi mới làm cả cánh đồng.
Tóm lại
SSNM gói trong ba việc: biết đất tự nuôi được bao nhiêu, tính đạm theo phần năng suất muốn tăng (Đông Xuân khoảng 40 kg N cho mỗi tấn), rồi chia đạm vào đầu vụ, đẻ nhánh rộ và làm đòng, chỉnh bằng bảng so màu lá. Lân bón hết đầu vụ, kali chia theo lượng cần.
Bà con cần tư vấn thêm, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.
Tài liệu tham khảo: Buresh R.J. (IRRI), "The SSNM concept and its implementation in rice", Hiệp hội Phân bón Quốc tế IFA (2009); IRRI, Rice Today, "Balancing fertilizer use and profit" (2008); Chivenge P. và cs., "Improving Nitrogen Use Efficiency: A Key for Sustainable Rice Production Systems", Frontiers in Sustainable Food Systems 5 (2021); Đại học Nông nghiệp Tamil Nadu (Ấn Độ), "Leaf Colour Chart".