Vụ Đông Xuân là vụ lúa "ăn chắc" nhất ở ĐBSCL, nhưng nhiều bà con vẫn bón theo thói quen: thấy ruộng bên xanh là rải thêm đạm, tốn tiền mà lúa dễ đổ, dễ sâu bệnh. Ngày 10/11/2025, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật ban hành Quyết định 4043/QĐ-TTTV-TTBVTV, sửa đổi quy trình sản xuất lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng ĐBSCL (bản trước ban hành theo Quyết định 145/QĐ-TT-CLT năm 2024, xây dựng với sự hỗ trợ của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế IRRI). Bài này tóm tắt phần bón phân và quy ra số ký phân cụ thể.
Lượng phân cho 1 ha lúa sạ vụ Đông Xuân
Phân hữu cơ: khuyến khích bón 1,5 đến 3 tấn.
Vôi (CaO): đất chua vừa và trung bình (pH KCl 4,0 đến 5,0) bón 200 đến 300 kg; đất chua nhiều và đất phèn (pH KCl dưới 4,0) bón 400 đến 500 kg.
Đất phù sa: 90 đến 100 kg N, 30 đến 40 kg P2O5, 30 đến 40 kg K2O.
Đất phèn nhẹ: 80 đến 100 kg N, 40 đến 50 kg P2O5, 25 đến 30 kg K2O.
Đất phèn trung bình: 60 đến 80 kg N, 50 đến 60 kg P2O5, 25 đến 30 kg K2O.
Đất càng phèn thì đạm càng giảm, lân càng tăng. Vụ Hè Thu và Thu Đông, lượng đạm giảm 15 đến 20% so với Đông Xuân. Nếu sạ bằng máy có vùi phân thì giảm thêm 10 đến 15% lượng đạm so với sạ thường.
Chia đợt bón theo ngày sau sạ
Bón lót (trước khi sạ): toàn bộ phân hữu cơ, vôi và lân. Riêng đất chua nhiều, đất phèn (pH KCl dưới 4,0) thì để lại 30% lân bón cùng thúc lần 1.
Thúc lần 1 (7 đến 10 ngày sau sạ): 40% lượng đạm.
Thúc lần 2 (18 đến 22 ngày sau sạ): 40% đạm và 40% kali.
Thúc lần 3 (38 đến 42 ngày sau sạ): 20% đạm và 60% kali.
Đạm tập trung vào giai đoạn đẻ nhánh, kali dồn về lúc làm đòng; không bón đạm sau 42 ngày.
Quy ra bao phân: ví dụ ruộng phù sa
Quy trình chỉ ghi lượng nguyên chất. Chúng tôi lấy một mức trong khuyến cáo cho đất phù sa là 90 kg N, 40 kg P2O5, 30 kg K2O mỗi ha, dùng urê (46% N), super lân (16% P2O5) và kali clorua KCl (60% K2O), tính ra:
Cả vụ cho 1 ha: khoảng 196 kg urê, 250 kg super lân, 50 kg KCl.
Bón lót: 250 kg super lân cùng phân hữu cơ, vôi (nếu đất chua).
Thúc lần 1: khoảng 78 kg urê.
Thúc lần 2: khoảng 78 kg urê và 20 kg KCl.
Thúc lần 3: khoảng 39 kg urê và 30 kg KCl.
Quy ra mỗi 1.000 m² (một công tầm điền): lót 25 kg super lân; thúc 1 khoảng 7,8 kg urê; thúc 2 khoảng 7,8 kg urê và 2 kg KCl; thúc 3 khoảng 3,9 kg urê và 3 kg KCl. Ruộng công tầm cấy (1.296 m²) thì nhân thêm khoảng 1,3 lần.
Dùng DAP hay NPK thay super lân, urê thì nhớ trừ phần đạm có sẵn trong đó ra khỏi lượng urê, kẻo dư đạm.
Sạ máy có vùi phân thì bón thế nào?
Dùng phân viên đường kính 2 đến 4 mm, chậm tan, để máy không nghẹt.
Chia làm 2 lần: vùi 70 đến 80% tổng lượng phân ngay khi sạ, phần còn lại bón vãi lúc đón đòng (38 đến 42 ngày sau sạ).
Phân vùi sâu khoảng 3 đến 4 cm, ít thất thoát hơn, và lượng đạm giảm 10 đến 15% như đã nói.
Lưu ý khi trộn và bón
Nhìn lá để chỉnh đạm: quy trình khuyến khích dùng bảng so màu lá lúa. Theo IRRI, chọn ít nhất 10 khóm ngẫu nhiên, so phần giữa lá trên cùng đã mở hoàn toàn, đứng che bóng cho khỏi sai màu, lấy điểm trung bình; đo 7 đến 10 ngày một lần từ đầu đẻ nhánh tới 5 đến 10 ngày sau khi lúa làm đòng. Lá xanh đậm thì bớt đạm, lá nhạt hơn mức khuyến cáo thì mới bón thêm.
Phối hợp rút nước: tưới ướt khô xen kẽ, rút nước ít nhất 2 lần, tốt nhất sau bón thúc 5 đến 7 ngày, để ruộng khô tối thiểu 3 ngày liên tục rồi mới cho nước vào lại, không quá 5 cm.
Vôi đi riêng: không trộn vôi chung với phân đạm vì dễ làm bay hơi đạm.
Urê trộn với KCl thì trộn ngay trước khi rải và rải hết trong ngày, vì hỗn hợp dễ hút ẩm, chảy nước.
Xử lý rơm rạ vụ trước: không đốt rơm, không vùi rơm khi ruộng ngập nước. Sau thu hoạch Hè Thu, Thu Đông, cày xới ngay và kết hợp phun chế phẩm sinh học như Trichoderma trước khi xới để rơm rạ mau hoai.
Đất phèn, đất mặn: không cày xới sâu quá 15 cm để khỏi xì phèn hay kéo mặn từ tầng dưới lên.
Phân tích đất định kỳ: sổ tay hướng dẫn đi kèm quy trình khuyến khích phân tích đất 5 năm một lần để có công thức sát với ruộng mình.
Thử trước: đổi cách bón thì làm trước trên một thửa, so với ruộng bón kiểu cũ rồi mới làm cả cánh đồng.
Tóm lại
Ruộng phù sa vụ Đông Xuân cần khoảng 90 đến 100 kg N, 30 đến 40 kg P2O5 và 30 đến 40 kg K2O mỗi ha, cộng phân hữu cơ, vôi khi đất chua. Lân bón lót hết; đạm chia 40-40-20 vào các ngày 7 đến 10, 18 đến 22 và 38 đến 42 sau sạ; kali chia 40-60 vào hai lần thúc sau. Đất phèn thì giảm đạm, tăng lân.
Bà con cần tư vấn thêm, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.
Tài liệu tham khảo: Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, "Quy trình sản xuất lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long" (kèm Quyết định 4043/QĐ-TTTV-TTBVTV ngày 10/11/2025); Cục Trồng trọt, "Sổ tay hướng dẫn quy trình kỹ thuật sản xuất lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng ĐBSCL" (2024); Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), Rice Knowledge Bank, "Leaf Color Chart".