Ngô lai ăn phân rất mạnh, nhưng bón bao nhiêu và lúc nào là chỗ bà con hay tranh cãi. Đây là cách tính của khuyến nông đại học nước ngoài: lấy năng suất mục tiêu làm gốc, chia đạm thành nhiều đợt, còn lân và kali thì nhìn vào kết quả xét nghiệm đất. Số liệu từ Đại học Delaware, Đại học Florida (UF/IFAS) và một nghiên cứu ở Tanzania có CIMMYT tham gia, đã quy đổi sang kg/ha.

Bước 1: Tính đạm theo năng suất mục tiêu

Delaware tính đơn giản: mỗi giạ ngô dự kiến thu được thì bón 1 pound đạm nguyên chất trên mỗi mẫu Anh. Đổi ra đơn vị của mình, tức khoảng 18 kg N cho mỗi tấn hạt. Riêng Florida, với ngô tưới năng suất cao trên đất cát hay bị mưa rửa trôi, UF/IFAS tạm dùng mức cao hơn là 1,37 pound mỗi giạ, tương đương khoảng 24,5 kg N mỗi tấn hạt. Quy ra đạm nguyên chất (chưa phải kg urê):

  • Mục tiêu 6 tấn hạt/ha: khoảng 107 kg N/ha (cách tính Delaware) đến 147 kg N/ha (mốc Florida).

  • Mục tiêu 8 tấn/ha: khoảng 143 kg N/ha đến 196 kg N/ha.

  • Mục tiêu 10 tấn/ha: khoảng 179 kg N/ha đến 245 kg N/ha.

Hai mốc đến từ hai vùng đất khác nhau, đừng bốc số cao nhất cho "chắc ăn". UF/IFAS ghi rõ bón vượt các mức này không tăng năng suất mà chỉ thêm tiền phân và nguy cơ rửa trôi. Ở nông hộ Tanzania, nơi ngô chỉ đạt khoảng 2 tấn/ha, nhóm Kihara (2020) thấy khoảng 50 kg N và 20 kg P/ha chia hai lần đã tăng năng suất ít nhất 32% ở phần lớn vùng thử. Liều phân luôn đi theo năng suất ruộng thực sự đạt được.

Bước 2: Lân và kali dựa vào xét nghiệm đất

Khác với đạm, lân và kali không nên tính "theo cảm giác". Bảng của Delaware cho ngô mục tiêu khoảng 200 giạ/mẫu (xấp xỉ 5 tấn/ha) như sau: đất rất thiếu lân cần khoảng 112 kg P2O5/ha khi bón theo hàng, đất khá còn khoảng 56 kg, đất rất giàu lân chỉ còn khoảng 34 kg. Với kali (rải đều), đất rất thiếu cần khoảng 213 kg K2O/ha, đất khá chỉ khoảng 67 kg. Florida cho 196 kg mỗi loại khi đất nghèo, 78 kg khi trung bình, đất giàu không bón.

Thang "thiếu, khá, giàu" mỗi nước mỗi khác, nên chỉ lấy số trên để hình dung độ lớn. Muốn chính xác, bà con nên xét nghiệm đất rồi mới chốt liều lân, kali.

Bước 3: Chia đạm thành nhiều đợt

  • Delaware: bón lót tối đa 25% tổng lượng đạm lúc gieo hoặc sát lúc gieo. Phần còn lại bón thúc khi cây cao khoảng 30 đến 38 cm (12 đến 15 inch).

  • UF/IFAS: lúc gieo bón khoảng 34 kg N/ha dạng bón hàng, chiếm 10 đến 15% tổng đạm. Bón thúc thêm khoảng 34 kg N/ha khi cây cao 30 đến 38 cm. Phần còn lại chia 5 đến 8 lần qua nước tưới, bón xong trước khi trổ cờ.

  • Chia hai nửa: thử nghiệm ở Tanzania bón nửa ở 6 lá, nửa ở 12 lá.

Ví dụ tính cho 1.000 m² (mục tiêu 8 tấn/ha, đất trung bình)

Lấy cách tính của Delaware: 143 kg N/ha. Theo bảng Delaware ở mức 300 giạ (gần với 8 tấn), đất ở mức khá cần khoảng 78 kg P2O5 và 107 kg K2O mỗi ha. Chia cho 10, mỗi 1.000 m² cần 14,3 kg N, 7,8 kg P2O5, 10,7 kg K2O. Tính theo sào Bắc Bộ (360 m²) thì nhân các số dưới đây với 0,36. Dùng phân đơn dễ tìm:

  • Lúc gieo: 12,8 kg MAP 12-61 (cho 7,8 kg P2O5 và 1,5 kg N) trộn với khoảng 4,6 kg urê (46% N, cho 2,1 kg N), bón hàng cạnh hạt. Tổng đạm lúc gieo khoảng 3,6 kg, tức 25% tổng.

  • Làm đất hoặc lúc gieo: rải khoảng 20,6 kg Kali sunphat (52% K2O, 18% S) để có 10,7 kg K2O.

  • Bón thúc: khoảng 23,3 kg urê (10,7 kg N) khi cây cao 30 đến 38 cm. Có thể chia đôi, mỗi lần khoảng 11,6 kg, ví dụ ở 6 lá và 12 lá.

Kali sunphat còn cho khoảng 3,7 kg lưu huỳnh trên 1.000 m² (37 kg/ha), gần mức 22 đến 45 kg S/ha mà hai nguồn khuyên cho đất cát.

Vi lượng và lưu huỳnh: chỉ bón khi đất cần

  • Lưu huỳnh: hay thiếu ở đất cát, ít hữu cơ. Delaware khuyên rải 34 đến 45 kg S/ha (sunphat amon hoặc thạch cao) lúc gieo.

  • Kẽm và mangan: UF/IFAS cho mức 2,2 đến 3,4 kg/ha, chỉ khi xét nghiệm đất cho thấy thiếu. Thiếu kẽm hay gặp ở đất pH từ 6,5 trở lên, lân cao, hoặc đất lạnh, ướt (Delaware). Khi cần bổ sung, xem Kẽm chelate.

  • Bo: UF/IFAS nêu khoảng 1,1 kg B/ha, chia theo các lần bón đạm.

Lưu ý khi pha trộn và bón

  • Trộn phân đủ dùng trong ngày, cân chính xác, đừng "bốc tay".

  • Bón hàng sát hạt dễ xót rễ non. Delaware giới hạn đạm cộng kali bón hàng không quá 84 kg/ha (8,4 kg trên 1.000 m²) và kali bón hàng tối đa khoảng 84 kg K2O/ha. Kali nhiều hơn thì rải đều.

  • Bón hàng tiết kiệm phân: UF/IFAS cho biết bón hàng lân, kali có thể giảm khoảng 25% liều mà năng suất không kém.

  • Gặp mưa to rửa trôi, UF/IFAS cho phép bổ sung thêm khoảng 34 kg N/ha. Ruộng từng bón nhiều phân chuồng nên xét nghiệm đạm trong đất trước khi bón thúc.

Tóm lại

Ba việc cần nhớ: tính đạm theo năng suất mục tiêu (khoảng 18 đến 25 kg N mỗi tấn hạt), lấy xét nghiệm đất làm cơ sở cho lân và kali, chia đạm ít nhất hai đợt với đợt đầu không quá một phần tư. Bà con cần tư vấn thêm về liều lượng cho ruộng nhà, cứ gọi số tư vấn trên website hoặc nhắn Zalo cho Chelate Asia nhé.

Tài liệu tham khảo: Đại học Delaware (University of Delaware Cooperative Extension), "Grain Corn" (tài liệu khuyến nông); UF/IFAS (Đại học Florida), trang khuyến cáo cây trồng "Corn" thuộc chương trình thực hành quản lý tốt nhất (BMP); Kihara J. và cộng sự (2020), "Unlocking maize crop productivity through improved management practices in Northern Tanzania", African Journal of Food, Agriculture, Nutrition and Development.

Ảnh minh họa: Kambai Akau, Wikimedia Commons (CC BY-SA 4.0).